Nội dung chính
Đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế đã trở thành ưu tiên chiến lược của Đảng, đứng sau quốc phòng, an ninh để bảo đảm an toàn và phát triển bền vững cho đất nước.
1. Đối ngoại – Trọng yếu, thường xuyên trong bối cảnh mới
Sau những năm liệt giải quốc phòng, an ninh, Đại hội Đảng lần thứ XIV lần đầu tiên nhấn mạnh “đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”. Điều này không chỉ nâng tầm tư duy ngoại giao mà còn là bước chuyển chiến lược, giúp Việt Nam duy trì vị thế độc lập, hòa bình và đồng thời thích ứng nhanh với “cái vạn biến” của thế giới.
1.1 Bài học từ Chủ tịch Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh – nhà ngoại giao kiệt xuất – đã đề ra “năm biết”: biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến. Ông xem đối ngoại là một mặt trận cách mạng, áp dụng nguyên tắc “vừa đánh, vừa đàm” để đưa Việt Nam vào dòng chảy cách mạng toàn cầu.
1.2 Lịch sử cách mạng chứng minh sức mạnh của đối ngoại
Từ sau Cách mạng Tháng Tám, tới các giai đoạn kháng chiến và đổi mới, Việt Nam đã xây dựng mối quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân và sau này với hơn 190 quốc gia. Đối ngoại đã trở thành mũi dao sắc bén, giúp quốc gia giữ vững chủ quyền và thu hút hỗ trợ quốc tế.
2. Thực trạng đối ngoại và hội nhập của Việt Nam hiện nay
Theo dự thảo Báo cáo chính trị, Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 43 đối tác chiến lược toàn diện, 7 nước công nghiệp phát triển và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Đối với lĩnh vực quốc phòng, chúng ta đã thiết lập quan hệ đối ngoại với hơn 100 quốc gia, mở 33 cơ quan tư vấn quốc phòng và cử gần 1.000 cán bộ thực hiện nhiệm vụ tại châu Phi, Thổ Nhĩ Kỳ và Liên Hợp Quốc.

Trong lĩnh vực Hải quân, chúng ta duy trì quan hệ song phương với gần 50 lực lượng hải quân, tham gia các cuộc tập trận đa quốc gia, tạo dấu ấn mạnh mẽ trên trường quốc tế và góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo.

3. Giải pháp thực tiễn để hiện thực hoá chiến lược
3.1 Tiếp tục phát huy tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Áp dụng “ngoại giao cây tre” – mềm mại, khôn khéo nhưng kiên cường; quyết liệt, linh hoạt nhưng không mất bản lĩnh; đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết. Điều này giúp Việt Nam duy trì sự linh hoạt, thích ứng nhanh với thay đổi quốc tế.
3.2 Đối ngoại là sự nghiệp của toàn dân
Đối ngoại cần đồng bộ ba trụ cột: Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Xây dựng nền ngoại giao hiện đại, tham gia định hình các thể chế đa phương, đồng thời làm cầu nối giải quyết xung đột, hạ nhiệt điểm nóng.

3.3 Tăng cường hợp tác quốc phòng và an ninh quốc tế
Thúc đẩy quan hệ quân sự, mở rộng hợp tác phòng, chống khủng bố, an ninh mạng và các lĩnh vực an ninh truyền thống. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Đảng vững, nước giàu, dân yên, quân mạnh, thêm bạn, bớt thù”.
3.4 Đối ngoại không thể tách rời quốc phòng
Hai lĩnh vực này có vị trí riêng nhưng luôn gắn bó chặt chẽ. Việc đưa “đối ngoại và hội nhập quốc tế” ngay sau “quốc phòng, an ninh” tạo thành một chỉnh thể thống nhất, giúp bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, trước khi xung đột nảy sinh.
Đại tá NGUYỄN HỮU HẠNH, Chủ nhiệm Chính trị Vùng 1 Hải quân
Việc thực hiện chiến lược này đòi hỏi sự đồng lòng của toàn xã hội, từ các nhà lãnh đạo đến từng công dân. Hãy cùng nhau xây dựng một Việt Nam hiện đại, hòa bình và thịnh vượng trên trường quốc tế.
Đọc thêm về vai trò của Vùng 3 Hải quân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng